Từ 18 tháng Tư 2005 . . .
-----
Tìm kiếm

10 bài viết mới nhất
Nghĩ ngợi trước Ngày chiến thắng - (04/05)
Anh hùng Liên Xô Ekaterina Demina: “Trong chiến tranh khi cứu các thủy thủ bị thương tôi không hề nghĩ gì về phần thưởng” - (22/04)
Nina Alexeyevna Lobkovskaya - người nữ thiện xạ - (13/08)
Bên tượng đài chiến sĩ Hồng quân ở Berlin - (09/05)
Nhật lệnh của Tổng tư lệnh các lực lượng Hồng quân và Hải quân Liên Xô - (09/05)
Bảo tàng bài hát “Kachiusa” - (08/05)
Thảm kịch Babi Yar của những người Do Thái ở Kiev - (08/05)
Sự kiện nào kết thúc thế chiến II - (06/05)
Cuộc hành quân vượt qua eo biển Kerch băng giá - (04/05)
Trận chiến định mệnh của những chiếc tăng đổ bộ - (01/04)

  » Các trận đánh lớn trong cuộc CTGNVĐ 
Lại nói về trận công phá Berlin
(23:54, 15/11/2007)

 

Hồng Quân đang tiến chiếm toà nhà Đế chính (Béc-lin)

Như một chiến dịch kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu, chiến dịch Berlin có vị trí đặc biệt. Trong chiến dịch này, đã nhận được lời giải đáp cuối cùng cho những câu hỏi quân sự chính trị quan trọng, mà từ đó, có rất nhiều ràng buộc về chuyện, sẽ xây dựng nước Đức hậu chiến thế nào, và vị trí của nó trong đời sống châu Âu sẽ ra sao”. Nguyên soái Jukov, người đã cùng nguyên soái Konhev lãnh đạo trận quyết chiến Berlin, đã phân định như vậy về ý nghĩa của trận đánh này.

 

Ngày 29 tháng Ba năm 1945, Stalin đã duyệt lần cuối kế hoạch chiến dịch. Còn việc soạn thảo kế hoạch, thì đã được Bộ Tổng tham mưu Xô-viết hoàn thành từ tháng 11 năm 1944. Dù sao chăng nữa, cả Hitler cũng nắm được thông tin về việc Liên xô sửa soạn cú đánh chót. Việc phân bổ lực lượng và hướng tấn công cũng đã là rất rõ ràng.

Cả hai bên đều có những hình dung khá rõ nét, và đều tăng cường chuẩn bị cho  trận quyết chiến trước mắt.

Ban chỉ huy Đức đã dồn về hướng Berlin tất cả những gì có thể: 48 sư đoàn bộ binh, 4 sư đoàn tăng, 10 sư đoàn môtô, 37 trung đoàn bộ binh độc lập, 98 tiểu đoàn bộ binh lẻ, và nhiều đơn vị khác. Tổng cộng toàn bộ cơ số này là hơn 1 triệu quân, 1500 chiếc xe tăng và vũ khí tấn công, 3300 chiếc máy bay. Đánh tan một đạo quân hùng hậu như vậy không phải là chuyện giản đơn. Ngoài ra, trên đường tiến của những người chiến sĩ Xô-viết, còn có những chướng ngại khác, như cao điểm Zeelovski (1).  

Để bảo vệ Berlin, thậm chí bọn lính Hitler đã thử áp dụng cả những kinh nghiệm Xô-viết năm 1941. Gebbels, kẻ chịu trách nhiệm về việc thành lập bộ phận quân đoàn dân vệ, đã cho rằng, bối cảnh khi đó giống như tình thế mà quân đội Xô-viết đã lâm vào, khi quân đội Hitler sửa soạn chiếm Mát-xcơ-va. Thậm chí, hắn ta còn tham khảo ý kiến của một kẻ đầu hàng phản bội là Vlassov, từng là tướng Xô-viết, năm 1941 cũng từng đã tham gia chiến sự phòng thủ Mát-xcơ-va.

Đáng tiếc là hiện nay, ngay ở nước Nga, cũng có thể nghe thấy những lời chỉ trích, rằng, tại sao khi chiếm Berlin, lại phải tốn công vượt qua chướng ngại tự nhiên như cao điểm Zeelovski để làm gì. Nhưng, không ngẫu nhiên mà nguyên soái Jukov đã nhận định trong hồi ký của ông rằng, việc giải quyết dứt điểm các vấn đề quân sự chính trị hậu chiến phụ thuộc vào công cuộc đánh chiếm Berlin. Còn các đồng minh hẳn cũng muốn tự mình chiếm lấy Berlin, mặc dù theo Hiệp ước Yanta, điều đó không thuộc phần việc kế hoạch của họ. Ở đây, thể hiện sự hăng hái nhất, là Sớc-sin, nhưng cũng không chỉ có một ông ta. Chẳng hạn, ngày 7 tháng Tư năm 1945, khi thông báo cho Ban tham mưu đồng minh về quyết định của mình, liên quan đến chiến dịch kết thúc, tướng Mỹ Eizenhauer đã tuyên bố:

“Nếu như sau việc chiếm Lepzig, mà thấy là không tổn thất nhiều vẫn có thể tiến đến Berlin, thì tôi muốn làm điều đó. Tôi là người đầu tiên đồng ý là chiến tranh được tiến hành để đạt những thành tựu chính trị, và nếu như Ban tham mưu thống nhất quyết định rằng, cố gắng của các đồng minh để chiếm Berlin sẽ làm lệch cán cân quân sự thuần túy, tôi sẽ vui mừng sửa chữa kế hoạch và các tư duy của mình, để thực thi chiến dịch”.

Một bối cảnh quân sự - chính trị như vậy đã hình thành trước khi bắt đầu chiến dịch Berlin. Không thể trì hoãn tiến hành cuộc tấn công của quân đội Xô-viết được nữa. Quả thật là, do hàng loạt nguyên nhân, phương diện quân Belorussia 2 của nguyên soái Rokossovski, đã không đủ sức chuyển sang tấn công cùng lúc với phương diện quân Belorussia 1 của nguyên soái Jukov và phương diện quân Ukraina của nguyên soái Konhev. Nguyên soái Jukov đã rất tiếc về điều này, nhưng mệnh lệnh vẫn là mệnh lệnh, và ngày 14 tháng Tư, ông đã tiến hành trận đánh trinh sát qui mô lớn.

Trước mỗi trận tấn công, vị chỉ huy nào cũng đều lo rằng, đối phương có thể phát hiện được đòn đánh của phía mình. Đáng tiếc, lần này cũng đã xảy ra đúng như vậy. Trong hồi ký, nguyên soái Jukov không viết gì về điều này. Xin dẫn ra đây ý kiến của nhà sử học Anatoli Utkin: “Tiếc thay, số phận xảo quyệt đã bày đặt những rủi ro to lớn. Bị bắt làm tù binh, một lính Xô-viết đã khai với các sĩ quan Đức hỏi cung rằng, trận đánh đó chỉ là trinh sát, chưa phải là đòn tấn công, còn cuộc tấn công thật sự thì sẽ nổ ra vào đêm 15 rạng sáng 16 tháng Tư”.

Ban tham mưu Đức đã kiểm tra thông tin này, và thực hiện những biện pháp cần thiết. Đêm 15 rạng 16, đội quân số 9 của tướng Busse đã được đưa về tuyến phòng thủ thứ hai.

5 giờ sáng ngày 16, khi trời vẫn còn mờ tối, mở màn cuộc tấn công chống Hitler được chuẩn bị  mạnh nhất trong suốt thời chiến tranh. Đã bật 143 đèn pha khổng lồ để làm chói mắt bọn lính Đức. Nhưng các đèn pha cực mạnh này chỉ chiếu sáng được 7 km trên cánh đồng cuồn cuộn những đám bụi, khói,  do vô số bom đạn nổ.

Khi đã chiếm được vòng phòng thủ đầu tiên của quân Đức, tại đó hầu như không nhìn thấy xác chết. Còn từ trên cao điểm Zeelovski, đối lại đòn tấn công của quân đội Xô-viết là những cột lửa đạn đại bác. Giữa trưa, Jukov đã quyết định đưa các xe tăng vào trận, mặc dù đã dự kiến chỉ làm việc đó sau khi chiếm cao điểm Zeelovski. Nhưng, trên không gian chật hẹp giữa bộ binh và cánh đồng dày đặc bom mìn, xe tăng đã trở thành miếng mồi ngon của quân phòng thủ Đức. Trong ngày tấn công đầu tiên, phương diện quân Belorussia 1 đã không sao phá được tuyến phòng thủ của địch.

Stalin lo lắng. Ông đã gọi điện cho Jukov và đòi giải thích. Jukov hứa sẽ phá vỡ mặt trận Đức vào ngày hôm sau, 17 tháng Tư. Nhưng rồi việc đó cũng không thành.

Trong lúc đó, công việc của phương diện quân Ukraina, do nguyên soái Konhev chỉ huy, diễn ra khá trôi chảy. Ông đã chọc thủng được mặt trận và xé toang tuyến phòng thủ Đức dài 29 km. Bộ phận tăng của phương diện quân Ukraina 1 đã tiến ra khoảng không gian chiến dịch.

Tình hình tấn công của quân ta ngày 16 và 17 tháng Tư đã khiến Ban chỉ huy Đức lấy làm mừng rỡ. Hình dung cuộc tấn công không thành của Jukov, Hitler đã coi đây là điềm báo thắng lợi tương lai của hắn, và thậm chí, là một bước ngoặt quyết định trong cuộc chiến.

Cũng trong lúc này, người Đức cố gắng hết sức để ký thỏa ước hoà bình riêng rẽ với các nước đồng minh. Tướng SS Karl Volf một lần nữa được phái đi tiếp xúc với các chỉ huy Anh - Mỹ.

Thế nhưng, bọn Hitler chẳng vui mừng được bao lâu trước vướng mắc của đòn tấn công Xô-viết tại cao điểm Zeelovski. Sau đây, là quan điểm của tướng Đức Kurt Fon Tippelskirkh, từng tham dự vào các sự kiện tháng Tư năm 1945: “Tuyến phòng thủ Đức được tổ chức tốt đã không cho phép quân Nga chọc thủng trong ngày tấn công đầu tiên. Ở một số điểm riêng lẻ, quân Đức thậm chí đã chuyển sang phản công, nhưng nhìn chung, toàn dải phòng ngự của quân đoàn 9 đã không chống đỡ nổi quân Nga. Bị những tổn thất to lớn trong tương quan lực lượng không cân xứng, Hitler đã kêu gọi “các dũng sĩ phương đông” tử thủ .

Nhưng giả như Quốc trưởng không kêu gọi, thì họ cũng đã căng toàn bộ sức lực cố chặn cuộc tấn công của quân Nga ở bờ Tây sông Ođer. Dù sao chăng nữa, ngả sang chiều ngày tấn công thứ ba, kết cục chiến sự đã rõ, và quân Nga đã phá vỡ được dải phòng ngự của quân đoàn 9”.

Trong hồi ký của mình, nguyên soái Jukov cũng đã khẳng định lời nhận xét này như sau:

“Từ sáng sớm 17 tháng Tư, trên tất cả các điểm diễn ra những trận giao tranh ác liệt. Kẻ thù đã chống cự một cách tuyệt vọng. Thế nhưng, đến chiều, không chịu nổi những đòn tấn công của đội quân xe tăng đã xung trận trước đó, hiệp đồng với toàn quân đánh vào hàng loạt điểm phòng ngự trên cao điểm Zeelovski, đối phương đã bắt đầu phải lui. Sáng 18 tháng Tư, ta chiếm lĩnh cao điểm Zeelovski”.

Và sau đây, còn một nhận xét rất quan trọng của nguyên soái Jukov :

“Thế nhưng cả ngày 18 tháng tư, quân địch vẫn cố chặn đường tiến của quân ta, tung những dự trữ cuối cùng ra đánh nhau, và thậm chí dùng cả một số bộ phận rút từ tuyến phòng thủ Berlin. Chỉ đến ngày 19 tháng Tư, bị thương vong nặng, bọn Đức không trụ nổi trước đòn giáng mạnh kiên cường của xe tăng ta và toàn thể quân đội, chúng mới bắt đầu chịu lùi về vành đai phòng thủ khu vực Berlin”.

Vì sao cần lưu ý đến nhận xét cuối cùng này của nguyên soái Jukov. Bởi vì, trong thời gian gần đây, đã xuất hiện luận điệu của những “chiến lược gia” bỉ ổi, kết tội nguyên soái Jukov rằng ông đã thí tốt không thương xót, rằng lẽ ra không cần phải chiếm cao điểm Zeelovski.

Đúng là trong trận tấn công Zeelovski, đã có không dưới 30 nghìn chiến sĩ Xô-viết bị hy sinh. Nhưng sau khi chiếm được cao điểm Zeelovski, toàn bộ quân đoàn 9 của Đức đã bị bọc trong gọng kìm thép và đã bị đánh tan. Đã tiêu diệt cả những dự trữ hậu phương của địch, trong đó có cả những đơn vị điều ra từ tuyến phòng thủ Berlin. Nếu như cả quân đoàn 9, và các dự trữ hậu phương của địch còn cố thủ trong thành phố, thì cuộc đánh chiếm sào huyệt của đế chế Quốc xã hẳn sẽ có con số thương vong khổng lồ. Nguyên soái Jukov đã đạt được điều mà ông cố gắng vươn tới: đánh tan lực lượng cơ bản của quân thù trên một cánh đồng, chứ không phải là trong các trận đánh đường phố. Không một ai có quyền chỉ trích Nguyên soái về điều này.

 

*****

 

Hồng Quân đang tiến chiếm toà nhà Đế chính (Béc-lin)

 

Chiến dịch Berlin, đó là trận quyết chiến chiến lược vô song trong lịch sử. Cùng lúc với phương diện quân Belorussia 1, tham gia chiến dịch còn có các phương diện quân Belorussia 2 và Ukraina 1. Phương diện quân Belorussia 2 dưới sự chỉ huy của nguyên soái Konstantin Rokossovski, đã tiến về Berlin từ phía vùng ven Baltic của nước Đức, che chắn cánh bên phải cho cuộc tấn công vào thủ đô Đệ tam đế chế Quốc xã.  Phương diện quân Ukraina 1, với vị chỉ huy là nguyên soái Ivan Konhev, đã được giao nhiệm vụ đánh tan đối phương ở cực nam của Berlin, trong khu vực Kotbus, chia cắt lực lượng chính của nhóm quân “Trung tâm” khỏi đội quân Berlin và bằng cách đó, tạo điều kiện cho quả đấm từ phương Nam của đoàn quân do nguyên soái Jukov lãnh đạo. Trong đó, quân của nguyên soái Konhev cần phải tiến theo ven bờ Beelitsh – Vittenberg và tiếp tục theo sông Elbơ đến Drezden.

Trong kết quả những trận tốc chiến ác liệt, quân của nguyên soái Konhev đã vượt được sông Neis, phá vỡ tuyến phòng thủ của địch trên chặng dài 26 km và tiến thêm một ngày được 13 km. Trong những ngày tiếp theo, nhịp độ tấn công đã bị giảm xuống.

Thế nhưng, chẳng bao lâu, phương diện quân Ukraina 1 đã sửa chữa được tình thế. Stalin đã gọi điện cho Konhev và ra lệnh :

“Công việc ở chỗ Jukov tiến triển chậm, hãy quay Rưbalko và Leliushenko sang Shelendorf”.

Trong trường hợp này, là chuyện nói về sự mắc mớ trong việc chiếm cao điểm Zeelovski, và về sự cần thiết quay đoàn quân xe tăng cận vệ số 3 và số 4(2), do các đại tướng Pavel Rưbalko và Dmitri Leliushenko chỉ huy, sang hướng Berlin. Tương ứng với việc đó, đã có chỉ thị cho đội quân tăng số 3, đêm rạng sáng 18 tháng Tư, vượt sông Shpree và tiếp theo, phát triển tấn công về các khu phía nam Berlin, rồi từ 20 đến 21 tháng Tư phải thọc vào thành phố. Trong một thời hạn nhất định, đội quân tăng cận vệ số 4 cần phải chiếm được Posdam, và phần tây-nam Berlin.

Quay ngược gần như 90 độ, các đoàn tăng tiến về phía Berlin. Sau đây là chứng nhận của nguyên soái Konhev: “Thực tế đã xảy ra như thế này: khi chúng tôi phá vỡ tuyến phòng thủ của chúng từ đông sang tây, tiếp theo đó,  quay ngược lên phía bắc tới Berlin, thì trước mặt quân ta, trong hàng loạt trường hợp nói chung, đã không hề còn dải phòng thủ. Còn bọn địch mà quân ta đã gặp, thì bố trí trận địa ở phía đông, và các nhánh quân ta bình tĩnh tiến lên phía bắc, đi ngang qua chúng hoặc là giữa bọn chúng, nhưng chỉ được đến vành đai vòng ngoài của Berlin”.

Ngày 20 tháng Tư, các xe tăng của tướng Rưbalko đã ở Shossen, nơi đóng trụ sở Bộ tham mưu tối cao của quân Đức. Ngày hôm sau, những chiếc tăng đã đến phần bên ngoài của vành đai bảo vệ Berlin. Cũng trong ngày hôm đó, chiến sự quay từ các khu vực phía bắc, sang phía đông-bắc của thủ đô Đức, nơi bộ phận tiên phong của phương diện quân Belorussia 1 đã chọc thủng được.

Trong những ngày tiếp theo, lực lượng của hai phương diện quân đã bắt đầu xé nhỏ và bao vây các nhóm quân bảo vệ Berlin, bao quanh thủ đô Đức từ phía bắc xuống phía nam. Ngày 24 tháng Tư, hai cánh đã hợp nhất trên vùng đông-nam của thành phố, nơi bố trí các đoàn quân cố thủ của địch. Kết quả là, đội quân xe tăng số 9 và số 4 của bọn quốc xã với cơ số 400 nghìn người, đã không chỉ bị bao vây, mà còn bị cắt làm hai mảnh, hai nhóm đại loại tương đương nhau: nhóm Berlin và nhóm Franfuôc-Guben. Ngày 25 tháng Tư, các phương diện quân Xô-viết đã gặp nhau trong khu vực Ketshin và khép kín vòng vây phía tây Berlin. Sau đó, Hồng quân bắt đầu giai đoạn hoàn thành chiến dịch Berlin : tiêu diệt các nhóm quân của kẻ thù, vốn đã bị ta vây chặt.

Trong những ngày này, khi kết cục của nước Đức quốc xã đã thấy trước, Hitler vẫn cố trấn an mình và những người chung quanh, rằng, trận chiến đấu vì Berlin còn chưa thất bại. Chiều 25 tháng Tư, tức là ngày mà vòng vây của ta quanh thủ đô Đức đã xiết chặt, Quốc trưởng phát-xít đã gửi một mật điện vô tuyến cho đại đô đốc Đenish, đang ở Golshtein. Trong bức điện này, cuộc tử thủ Berlin được gọi là “trận chiến đấu vì số phận của nước Đức”. Theo quan điểm của quốc trưởng phát xít, toàn thể các mặt trận và những nhiệm vụ khác, đều có ý nghĩa hàng thứ yếu. Đại đô đốc được khuyến cáo ủng hộ cuộc chiến đấu bảo vệ Berlin, bằng cách dùng đường không, đường thủy và đường bộ, ném vào thành phố những đội quân cứu viện. Trong cuốn lịch sử của mình, tướng Đức Kurt Fon Tippelskirkh đã đánh giá điều đó như sau:

“Vì rằng Hitle không rời bỏ Berlin, còn Gebbels muốn hoàn thành sự mệnh cuồng tín của mình, tuyên bố thủ đô Đức là “biểu tượng của cuộc chiến đấu quyết định vận mạng dân tộc”, nên trong thành phố tội nghiệp đã bắt đầu xảy ra hàng loạt những cuộc chống cự vô nghĩa, trong đó, không nghi ngờ gì, nhiều người tham gia vì đã bị nhồi sọ lòng trung thành mê muội, được nuôi dưỡng bởi những lời hứa hẹn giả dối về sứ mạng của đội quân giải phóng, cũng như trong lúc đó, nhiều người khác đã buộc phải chiến đấu, chỉ vì nỗi khiếp nhược trước sự tàn bạo của đồng đảng Hitler”.

Hơn 400 nghìn người bị cuốn vào các công việc phòng thủ trong thành phố. Đã lập ra 3 tuyến bố phòng: vòng ngoại vi, vòng bao sát thủ đô và vòng nội vi. Có hơn 400 hầm ngầm bêtông cốt sắt và boongke chìm.  Một số boongke nằm sâu dưới đất, có đến 6 tầng. Trên các đường phố chi chít các hào giao thông, ụ chướng ngại chống tăng, ổ chiến đấu. Các cửa sổ đóng chặt và biến thành điểm tác chiến. Hơn 600 vũ khí phòng không được bố trí tại các trận địa phòng thủ chống tăng và chống bộ binh.

Bản thân thành phố được chia làm 8 khu. Còn có một khu thứ 9, là khu đặc biệt, bao gồm trung tâm Berlin, nơi có toà nhà chính phủ và Quốc hội, thủ phủ của đệ tam đế chế Quốc xã.

Cư dân thành phố đã được báo động, rằng cần phải sẵn sàng đón các trận đánh đường phố

ác liệt. Liên quan đến việc này, có khuyến cáo nên sử dụng mêtrô, các kênh liên lạc và các phương tiện dưới mặt đất. Lệnh của Hitler nói :

“Nhà dân biến thành pháo đài, các hầm bêtông là những trạm dân phòng. Đối phương không cho ta một phút yên ổn nào, do đó chúng cũng cần phải bị lo sợ và đổ máu trong cuộc chiến đấu vì các trạm bố phòng của ta... Cơ sở thành công cho cuộc phòng thủ Berlin, cần phải là cuộc phòng thủ đến từng  khối phố, đến từng ngôi nhà, từng cửa sổ cuối cùng... Không cần để mỗi người bảo vệ thủ đô của đế chế cũng biết chi tiết về công tác quân sự, điều quan trọng hơn nhiều, là làm sao cho mỗi người đều được cổ vũ bởi lòng nhiệt thành và ý chí hăng hái chiến đấu, vì biết rằng : toàn thế giới đang nín thở dõi theo cuộc đấu tranh này, và cuộc chiến đấu vì Berlin sẽ quyết định số phận toàn cuộc chiến”.

Những ngày cuối tháng Tư năm 1945, Hitler đã có thể rời thành phố Berlin bị bao vây. Nhưng hắn đã không muốn thế. Đơn giản vì hắn ta chẳng còn biết đi đâu. Quốc trưởng phát-xít vẫn chưa từ bỏ ý nghĩ lao vào các cuộc thương lượng với người Anh và người Mỹ, mà theo quan điểm của hắn,  là những người cần quan tâm sao cho quân Nga không chiếm được thủ đô Đức, và chính đó là một điều kiện, hắn còn có thể vớt vát được khi thương lượng. Thêm nữa, Hitler còn xuất phát từ tin chắc rằng, tình hình nóng bỏng xung quanh Berlin khi ấy, thậm chí còn là yếu tố thuận lợi tạm thời cho một cuộc thương lượng như vậy.

Sự ngoan cố của Hitler và những kẻ quanh hắn, trông mong vào thương lượng, đã hoá ra chỉ là những ảo tưởng. Sau những tội ác đã gây nên, hắn không sao còn có thể là một đối tác trong đàm phán, và bất kỳ cuộc tiếp xúc nào với hắn của các nhà chính trị phương tây, cũng đều là điềm báo những hậu quả nghiêm trọng. Dư luận xã hội khó mà có thể chấp nhận những đàm phán kiểu đó.

Và cả hy vọng vào quân đội của tướng Venk, hay là có thêm sự hỗ trợ từ mọi phía cho quân đoàn 9, hiện đang ở trong vòng vây, rồi đòn phản công của quân Đức từ phía bắc đánh vào tuyến quân của nguyên soái Gheorgi Jukov, sẽ làm thay đổi cục diện chiến sự, đều là những ý tưởng vô vọng. Và sự phát triển chiến cuộc mới nhất, đã khẳng định điều đó: quân đoàn 12 của tướng Venk, di chuyển từ phía tây đến Berlin, đã bị quân Xô-viết chặn lại và đánh tơi tả.

Hitler đã chỉ còn có thể trông cậy vào vòng phòng thủ Berlin, nơi  bộ phận co cụm về đã tăng đến gần 300 nghìn lính và sĩ quan, và bổ sung thành lập khẩn cấp 200 tiểu đoàn quân chủ lực, SS và đội ngũ cận vệ của Hitler. Nhưng cả sự chống cự của chúng cũng chỉ là vô nghĩa.

Trận tấn công quyết định vào thành phố bắt đầu ngày 25 tháng Tư. Trước ngày này, Berlin bị các máy bay Mỹ và Anh oanh kích. Quân đội được biên chế lại thành các nhóm tấn công và lớp tấn công. Trong thành phần các đơn vị gồm cả tăng, phòng không, và bắn tỉa. Trong hồi ký của mình, nguyên soái Jukov đã mô tả hoạt động của quân ta như sau :

Cuộc tấn công của ta không ngừng nghỉ, suốt ngày, suốt đêm. Tất cả nỗ lực được dồn vào hướng không cho quân địch có khả năng tổ chức phản công tại các điểm phòng thủ mới. Quân ta chia thành các thê đội đánh thọc sâu vào nội vi. Ban ngày, những đợt tấn công  đầu tiên, rồi tiếp đến những đợt ban đêm.

Trước đó, ta đã có kế hoạch tấn công chi tiết vào chính thành phố, nhằm trúng vào tuyến phòng thủ Berlin với những khu vực, các quận và các điểm của nó.

Từng đội quân tham gia tấn công Berlin đều đã được phân định công việc cụ thể. Mỗi đơn vị chịu trách nhiệm chiếm từng đối tượng cụ thể, các quận, các đường phố, các quảng trường. Đằng sau mỗi trận hỗn chiến đường phố, đều là một hệ thống kế hoạch cân đối, được chuẩn bị kỹ lưỡng. Dưới ngọn lửa tiêu diệt, lần lượt những đối tượng cơ bản của thành phố bị ta đánh chiếm...

Nhiệm vụ của các trận đánh đường phố ở Berlin nằm ở chỗ, làm sao để triệt tiêu khả năng bọn địch thu thập tàn lực thành một nắm đấm, làm sao phá vỡ vành đai phòng thủ tại từng cứ điểm, và nhanh chóng tiêu diệt chúng”.

Ngày 26 tháng Tư, do kết quả tấn công của Hồng quân, nhóm quân Berlin của Đức đã bị cắt làm hai mảnh : một nửa, ở chính thành phố, và một nửa ít hơn, ở khu vực Posdam. Ngày hôm sau, nhóm Posdam đã bị đánh tan. Các trận đánh dồn vào trung tâm thủ đô phát-xít.

Ngày 28 tháng Tư, từ hàng loạt điểm đã bị phá toang, quân đội Xô-viết đánh thọc vào tuyến phòng thủ trung tâm, khu vực số 9 của Berlin. Ngày 30 tháng Tư, bắt đầu những trận đánh vào thủ phủ Quốc xã, mà tấn công là các sư đoàn thiện xạ Xô-viết số 150 và 171. Trong ngày lịch sử này, hai người lính Hồng quân của các sư đoàn đó,  các chiến sĩ Mikhail Egorov và Mikhail Kantari, đã cắm lá cờ Chiến thắng trên nóc toà nhà Quốc hội của nước Đức phát xít.

Đến phút đó, lãnh đạo Đức phát xít mới nhận thức được sự vô vọng hoàn toàn của việc chống cự. Ngày 30 tháng Tư, Hitler tự sát. Đêm rạng sáng 1 tháng Năm, được sự cho phép của quân đội Xô-viết, tướng Krebs đã đến, nhân danh Gebbels và Borman, xin tạm ngưng các hoạt động chiến sự. Y đã được nghe thông báo, đòi Berlin phải nhanh chóng đầu hàng. Lời từ chối thực hiện điều kiện này buộc Ban tham mưu Xô-viết phát động tấn công tiếp. Sáng sớm 2 tháng Năm, vượt qua đường mặt trận, tướng Beidling chỉ huy chiến tuyến Berlin, đã giơ cờ trắng ra hàng. Đến 15 giờ, toàn bộ chiến tuyến phát xít đã hạ vũ khí. Việc tiêu diệt các nhóm quân Berlin đã hoàn thành. Trong ngày hôm đó, tại Berlin, gần 135 nghìn lính và sĩ quan phát-xít đã bị quân ta bắt làm tù binh.

Berlin đã thất thủ.Từ lúc đó cho đến sự đầu hàng hoàn toàn của nước Đức phát xít, chỉ còn lại có 6 ngày.

 

(1)       Các điểm cao Dê-lê-ốp

(2)       Các tập đoàn quân xe tăng cận vệ số 3 và số 4

Bản in 


Các tin khác
Lê-nin-grát 900 ngày trong vòng vây của phát xít Đức (15/11)
Cuộc chiến đấu bảo vệ pháo đài Brest (15/11)
Chiến dịch Ba-gra-chi-ôn (15/11)
Xta-lin-grát - Chiến thắng vĩ đại trên sông Vôn-ga (15/11)
Chiến dịch Vi-xla - Ô-đe (15/11)
 Đặt làm trang chủ
 Thêm vào Favorites

Google Search
Google


google.com.vn

10 bài đọc nhiều nhất
Sơ lược về vũ khí Xô viết trong chiến tranh giữ nước vĩ đại - (43829)
Máy bay cường kích Xô-viết trong Chiến tranh Giữ nước vĩ đại - (29694)
Những câu hỏi “tế nhị” về Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại - (27703)
Chiến dịch Ba-gra-chi-ôn - (18672)
Maskelyne - nhà ảo thuật của chiến tranh - (18209)
Kachiusa – những loạt súng khiến kẻ thù run sợ - (17091)
Vũ khí chống tăng của Hồng quân - (13119)
Thế hệ thiết giáp Xô-viết mới đối chọi với tăng Tiger - (12980)
Sự thật về nguyên soái G. Zhukov - (11598)
Khả năng chiến đấu của xe tăng KV - (11564)

Nhà Tài Trợ
Liên kết
  Số lần truy cập:
4682527